Xây dựng lực lượng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế trong xây dựng quan hệ sản xuất mới
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng ấy thấm nhuần đạo đức cách mạng và chủ nghĩa nhân văn cao cả. Trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, tư tưởng về quan hệ sản xuất luôn được người chú trọng luận giải dưới những ngôn từ giản dị, dễ hiểu nhưng rất phong phú, chứa đựng những hạt ngọc lý luận kinh tế quý báu. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ sản xuất chúng ta thấy được sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo những nguyên lý cơ bản của học thuyết Mác - Lênin vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của nước ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cách Mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế được hình thành từ rất sớm. Khi chúng ta giành được chính quyền, bắt tay vào công cuộc kiến thiết và bảo vệ Tổ quốc, tư tưởng đó thể hiện ngày càng toàn diện và rõ hơn trong việc xây dựng và phát triển một nền kinh tế của nước Việt Nam độc lập. Người không dừng lại ở tư duy kinh tế đơn thuần, mà đòi hỏi một sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với những vấn đề chính trị, xã hội, với độc lập dân tộc, với đoàn kết quốc tế vì sự phồn vinh và phát triển mạnh mẽ của dân tộc. Khi đề cập đến quan hệ sản xuất Hồ Chí Minh luôn chú trọng hoàn thiện ở cả ba mặt là sở hữu, quản lý và phân phối; Phải làm cho quan hệ sản xuất mới dần dần phù hợp với lực lượng sản xuất phát triển, có như vậy mới giải quyết được mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hội.
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chế độ sở hữu
Trong Chánh cương, Sách lược vắn tắt của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo tháng 2/1930 đã xác định mục tiêu là nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Trong một nước độc lập và xây dựng chế độ dân chủ thì nhân dân là chủ và nhân dân làm chủ; Đó vừa là thành quả vĩ đại của độc lập dân tộc mà cũng là sức mạnh đảm bảo quan trọng nhất để giữ vững độc lập dân tộc và phát triển dân tộc, bởi dân là gốc của nước, lấy dân làm gốc thì nền độc lập mới thực sự bền vững. Và Hồ Chí Minh xác định cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.
Quan điểm đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh là đã xác định đúng mục tiêu trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc để thực hiện độc lập và dân chủ; mục tiêu lâu dài, triển vọng phát triển của nước ta là cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin về sự phát triển tất yếu của xã hội loài người theo các hình thái kinh tế - xã hội. Quan điểm của Hồ Chí Minh là: Tiến lên Chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu ở Việt Nam sau khi nước nhà đã giành được độc lập theo con đường cách mạng vô sản.
Những quan niệm của Hồ Chí Minh về Chủ nghĩa xã hội vẫn là theo các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin về Chủ nghĩa xã hội, nhưng với cách diễn đạt ngôn ngữ nói và viết đầy chất lý luận chính trị phong phú, rất mộc mạc, dễ hiểu. Theo Hồ Chí Minh, bản chất của Chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội phải thể hiện ở tất cả mọi phương diện cấu thành đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến xã hội, tới các quan hệ xã hội giữa người với người. Nó là sự thống nhất biện chứng giữa các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa đạo đức. Đó là xã hội giải phóng con người và phát triển con người, đem lại cho mọi người cuộc sống ấm no hạnh phúc, được hưởng tự do và hạnh phúc. Chính vì lẽ đó mà chúng ta không nên tuyệt đối hóa từng mặt, tách riêng rẽ từng mặt mà phải đặt chúng trong một tổng thể chung. Như khi nói chuyện tại lớp hướng dẫn giáo viên cấp II, cấp III và Hội nghị Sư phạm vào tháng 7/1956, Hồ Chí Minh cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng ... làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”.[4, tr.226]
Khi nhấn mạnh mặt kinh tế, Hồ Chí Minh nêu chế độ sở hữu công cộng của Chủ nghĩa xã hội và phân phối theo nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác - Lênin là làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có phúc lợi xã hội. Về mặt chính trị, Hồ Chí Minh nêu chế độ dân chủ, mọi người được phát triển toàn diện với tinh thần làm chủ. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa xã hội có chế độ chính trị dân chủ, nhân dân lao động là chủ và nhân dân lao động làm chủ, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân, dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công - nông - tri thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Mọi quyền lực trong xã hội đều tập trung trong tay nhân dân. Nhân dân đoàn kết thành một khối thống nhất để làm chủ nước nhà. Nhân dân là người quyết định vận mệnh cũng như sự phát triển của đất nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh coi nhân dân có vị trí tối thượng trong mọi cấu tạo quyền lực. Chủ nghĩa xã hội chính là sự nghiệp của chính bản thân nhân dân, dựa vào sức mạnh của toàn dân để đưa lại quyền lợi cho nhân dân.
Đối với nước ta, trong hoàn cảnh miền Bắc tiến lên Chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh phân tích: “Nước ta trước đây là thuộc địa, giai cấp tư sản dân tộc vốn đã nhỏ bé lại bị đế quốc và phong kiến chèn ép, không thể ngóc đầu lên. Cho nên số đông họ đã đi theo nhân dân lao động chống đế quốc, phong kiến, tham gia kháng chiến. Đó là mặt ưu điểm của họ. Nhưng do bản chất giai cấp của họ, họ vẫn luyến tiếc cách bóc lột và muốn phát triển theo Chủ nghĩa tư bản. Nhưng trong điều kiện miền Bắc tiến lên Chủ nghĩa xã hội, ý nguyện của họ không thể nào thực hiện được. Họ thấy phải tiếp thu cải tạo Xã hội chủ nghĩa, vì họ không thể tự đặt mình ra ngoài đại gia đình toàn dân Việt Nam. Và đại đa số người tư sản dân tộc đã thấy rõ rằng: thật thà tiếp thu cải tạo thì họ được hòa mình với nhân dân lao động để xây dựng Tổ quốc, xây dựng Chủ nghĩa xã hội”. Từ đó, Người chủ trương: “Đối với những nhà tư sản công thương, Nhà nước xóa bỏ quyển sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ, mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của nhà nước. Đồng thời nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo Chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”. Về mặt xã hội chính trị họ có quyền lợi thích đáng “ họ vẫn giữ địa vị một thành viên trong mặt trận tổ quốc”.
Bản chất của Chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là sự thống nhất hữu cơ bản chất của giai cấp công nhân cách mạng với tính chất dân tộc và nhân dân sâu sắc. Người nói về vai trò của nhân dân và sức mạnh thực sự của dân chủ vừa thuộc về bản chất của Chủ nghĩa xã hội vừa là động lực căn bản, sâu xa nhất để xây dựng và bảo vệ Chủ nghĩa xã hội.
Trong tác phẩm Dân vận (1949), Hồ Chí Minh đã trình bày rất sâu sắc lý luận về dân chủ, thể hiện bản chất của Chủ nghĩa xã hội nhìn từ phương diện chính trị đó là: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.[3, tr.698]
Trong báo cáo sửa đổi Hiến pháp trước quốc hội. Hồ Chí Minh đã trình bày đường lối chung tiến lên chủ nghĩa xã hội. Khẳng định nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phải tạo lập trên cơ sở chế độ công cộng về tư liệu sản xuất. Người nêu rõ các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chính sách đối yới các loại hình đó.
“Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu xuất như sau:
- Sở hữu của nhà nước tức là của toàn dân.
- Sở hữu của Hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động.
- Sở hữu của người lao động riêng lẻ.
- Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản.
Mục đích của chế độ ta là xóa bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở thành một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể”.[5, tr.588]
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra luận điểm mới mà chỉ vận dụng các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam. Về chế độ sở hữu, Hồ Chí Minh cho rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phải được tạo lập trên cơ sở chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, nhưng trong thời kỳ quá độ còn tồn tại bốn hình thức sở hữu chính là: sở hữu Nhà nước tức là của toàn dân, sở hữu của hợp tác xã tức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư bản về tư liệu sản xuất.
Sau khi Chủ tịch Hồ chí Minh qua đời, nhất là sau khi đất nước thống nhất, do nhiều nguyên nhân, việc nhận thức và giải quyết vấn đề sở hữu đã có nhiều hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân chủ yếu là:
Nhận thức giản đơn, giáo điều về xã hội xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: quan niệm Chủ nghĩa xã hội như một xã hội lý tưởng, thuần nhất dựa trên chế độ công hữu với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể; không phân biệt sở hữu với tư cách là quan hệ kinh tế hiện thực với sở hữu là quan hệ pháp lý; đồng nhất sở hữu toàn dân với sở hữu nhà nước và coi đây là sở hữu Chủ nghĩa xã hội, là hình thức sở hữu xã hội hóa cao nhất; định kiến, phủ nhận hoàn toàn vai trò của sở hữu tư nhân; cho rằng có thể tiến thẳng, tiến nhanh lên Chủ nghĩa xã hội chỉ mất vài kế hoạch 5 năm... Từ đó dẫn đến nóng vội phát triển tràn lan hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể.
Cường điệu vai trò quyết định của quan hệ sở hữu, trên thực tế đã nhận thức không đúng mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ. sở hữu với lực lượng sản xuất, với quan hệ tổ chức, quản lý và phân phối, xem nhẹ việc giải quyết, xử lý các mặt này.
Tuyệt đối hóa vai trò của Nhà nước và công cụ kế hoạch, phủ nhận vai trò của thị trường, dẫn đến hành chính hóa các quan hệ kinh tế. Đồng thời, không thấy khả năng tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh, dẫn đến Nhà nước nắm tất cả và can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh, làm hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp và triệt tiêu tính tích cực của người sản xuất, dẫn đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế thấp ở cả tầm vi mô và vĩ mô.
2. Quan hệ tổ chức quản lý
Hồ Chí Minh sớm có nhận thức về vai trò của kế hoạch hóa đối với phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia; Người nói: “Ở thời đại chúng ta, tôi nghĩ rằng bất cứ nền kinh tế nào ít hay nhiều cũng phải kế hoạch hoá”.[1, tr.379-380]
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi người phải làm theo kế hoạch. Người nói: “Lúc trước chúng ta làm việc chưa có kế hoạch, làm theo lối du kích. Nay do có sự đòi hỏi của tình hình nước ta, do sự tiến bộ của nhân dân ta, nhờ có sự giúp đỡ của các nước anh em, cho nên các việc làm tiến đến có kế hoạch” , và sản xuất phải có kế hoạch, làm việc gì phải tính toán cụ thể. Người đã nói đến “kế hoạch dài hạn” và “một kế hoạch chung thì phải đặt ra với chung toàn quốc”.[2, tr.380]
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở chúng ta trong kế hoạch hóa nền kinh tế phải chú ý các vấn đề:
- Khi xây dựng một kế hoạch kinh tế thì phải chú ý đến mục đích của kế hoạch. Người nói: “Phải luôn luôn nhớ rằng: điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân”.[6, tr.486]
- Xây dựng kế hoạch phải rất tỷ mỉ để đạt được mục đích đề ra là phải có hiệu quả cao, tiết kiệm. Người nói: “Kế hoạch sản xuất không định theo cách quan liêu, mà phải liên hệ chặt chẽ với tình hình kinh tế, với nguồn của cải, với sự tính toán rõ rệt sức hậu bị của ta.
Kế hoạch không nên sụt lại sau, nhưng cũng không nên chạy qua trước sự phát triển của công nghệ, không nên xa rời nông nghiệp, không nên quên lãng sức tiết kiệm của ta”.[3, tr.120]
- Khi đặt kế hoạch phải nhìn xa. Có nhìn xa mới quyết định đúng đắn. Phải thấy rộng. Có thấy rộng mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối. Khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo, thật sát với mỗi cơ sở. Chớ có làm kế hoạch đẹp mắt, to tát, kể hàng triệu, nhưng không thực hiện được; Hồ Chí Minh đã nêu lên câu nói nổi tiếng có ý nghĩa như một chân lý: Chỉ tiêu kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần, cố gắng phải ba phần.
- Khi đặt kế hoạch, cần coi trọng kể hoạch công nghệ. Hồ Chí Minh nói: “đặt kế hoạch công nghệ cho đúng đắn và hợp lý là một điều kiện chủ chốt trong việc tiêu dùng tiền của” . Đây là điều hết sức cần thiết trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi các quốc gia phải luôn chú trọng kế hoạch công nghệ để góp phần tăng trưởng kinh tế;
- Phải luôn gắn kế hoạch giáo dục với kế hoạch kinh tế. Người nói: “Kinh tế có kế hoạch, giáo dục cũng phải có kế hoạch. Kế hoạch giáo dục phải gắn liền với kế hoạch kinh tế”.[4, tr.137]
- Trong thực tế xây dựng và thực hiện kế hoạch chúng ta chưa vận dụng nghiêm túc lời dạy của Người, vẫn còn có nhiều kế hoạch mới dừng lại ở những ý tưởng và chỉ tiêu, thiếu các biện pháp và cố gắng, quyết tâm trong khâu chỉ đạo thực hiện.
Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề công bằng xã hội và phát triển kinh tế sẽ không thể thực hiện có hiệu quả nếu không có một cùng cách quản lý đúng và khoa học; Do vậy, Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề quản lý kinh tế, coi đó là chìa khóa đẻ phát triển nền kinh tế quốc dân. Những quan điểm của Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế có tính sáng tạo và có nội dung tổng kết sâu sắc.
Hồ Chí Minh chỉ rõ phải từng bước xây dựng một cơ chế quản lý kinh tế thích hợp; Cơ chế đó phải thường xuyên cải tiến, chỉnh đốn và đổi mới, chứ không thể dừng lại một chỗ; Bởi đó là lĩnh vực rất phức tạp và luôn biến động. Nên phải kịp thời phát hiện những khuyết điểm, sai lầm để sửa chữa, ngăn chặn, để làm cho mọi hoạt động kinh tế ngày càng có hiệu quả hơn và Người đã chủ trương phát động nhiều đợt cải tiến quản lý kinh tế trong các xí nghiệp quốc doanh, cũng như trong các hợp tác xã nông nghiệp.
Chúng ta có thể thấy một trong những quan điểm chỉ đạo của Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế là áp dụng hạch toán kinh tế, Người luôn nhắc nhở nguyên tắc trong làm kinh tế là phải biết tính toán, tính toán công việc và sử dụng con người để đạt hiệu quả kinh tế cao; Làm được như vậy thì kinh tế mới phát triển, mới nói đến cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân được. Có tiến hành quản lý, có biết thu vào bao nhiêu, tiêu bao nhiêu, mới biết lời lãi, mới biết ai làm tốt, làm xấu, ai làm vượt mức, ai làm không vượt mức. Để quản lý tốt phải tổ chức bộ máy cho tốt, cho hợp lý, bố trí người đứng chỗ, Người nói: “Sắp đặt cho hợp lý, để một người có thể làm việc như hai người, một ngày có thể làm việc của hai ngày, một đồng có thể dùng bằng hai đồng” Để quản lý tốt Hồ Chí Minh cũng yêu cầu tất cả mọi người đều phải có quyền và trách nhiệm tham gia quản lý, từ người cán bộ đến người công nhân trong nhà máy phải thông suốt tư tưởng, có thái độ là chủ nước nhà, là chủ xí nghiệp, phải làm đến nơi đến chốn.
Đồng thời, trong quản lý kinh tế phải luôn chú ý hiệu quả của công việc; Quản lý một nước cũng như quản lý một doanh nghiệp, phải có lãi; Xây dựng những nhà máy, những ngành công nghiệp có lãi, tức là phải có năng lực cạnh tranh và có hiệu quả. Và chế độ làm khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội, nó khuyến khích người công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ; Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng.
Người cũng cho rằng, để quản lý tốt thì phải thực hành tiết kiệm chống tham ô, lãng phí.
Tiết kiệm, theo tư tưởng của Người là sử dụng hợp lý, có hiệu quả thời gian, công sức, tiền của Nhà nước, của nhân dân, chi tiêu có kế hoạch, có tính toán, xem xét đầy đủ các yếu tố, giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền của, thời gian, công sức nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã xác định. Tiết kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không có nghĩa là bớt ăn, mà là thêm ăn; Mục đích của tiết kiệm là tích trữ tiền của, thời gian, công sức cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống cho nhân dân và bộ đội;
3. Quan hệ phân phối thu nhập
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề phân phối trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người khẳng định: Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải lấy phân phối theo lao động là chủ yếu, đồng thời chú ý đến phúc lợi xã hội để đảm bảo sự câng bằng, hợp lý.
Người quan tâm giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện chế độ phân phối hợp lý; Theo Hồ Chí Minh, trong chủ nghĩa xã hội “sản xuất được nhiều, đồng thời phải chú ý phân phối cho công bằng”[4, tr537]. Muốn phân phối công bằng phải tuân thủ nguyên tắc; Người nói: “chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”.[5, tr175]
Tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải muốn là tức khắc có, mà phải làm thế nào cho nó tiến lên, tức là phải lao động, lao động là thiết thực, tất cả mọi người phải lao động. Công nhân trong nhà máy, lao động trí óc và chân tay đều có lương bổng. Hồ Chí Minh nói: “Có lao động thì mới có ăn. Không lao động thì không có ăn. Lao động nhiều hưởng nhiều, lao động ít hưởng ít. Lương bổng theo sức lao động của mình, tùy theo mức sản xuất, chất lượng sản xuất. Làm tốt, làm nhiều, hưởng nhiều, làm xấu, làm ít, hưởng ít, có khi phải bồi thường lại cho Nhà nước. Chính phủ không phát lương cho người ngồi ăn không”.[4, tr,338] Chính sách phân phối ấy đã thể hiện rõ nét tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.
Khi kinh tế phát triển, cơ sở vật chất dồi dào hoặc khó khăn thì phải phân phối cho đúng để tạo ra sự công bằng trong xã hội và kích thích sản xuất phát triển. Mục đích kinh tế của chủ nghĩa xã hội là vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân lao động. Do đó phải thường xuyên quan tâm đến lợi ích thiết thực của người lao động, phải đảm bảo phân phối cho công bằng để mọi người ai cùng được hưởng thành quả lao động của mình. Muốn phân phối cho công bằng Hồ Chí Minh đã chỉ ra phải tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động, tránh phân phối bình quân: “Phân phối phải theo mức lao động, lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít. Lao động khó thì được phân phối nhiều, lao động dễ thì được phân phối ít. Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng cộng điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân”.[6, tr.410] Đây là những chỉ dẫn quan trọng bác bỏ chế độ phân phối bình quân chủ nghĩa đã tồn tại trong nhiều năm trước đây; Có như vậy mới khuyến khích được người lao động và mới phát huy được năng lực của từng cá nhân. Trong lao động Người cũng đòi hỏi phải nghiêm khắc với những người lao động, ý thức kém trong lao động sản xuất.
Bên cạnh phân phối theo lao động Hồ Chí Minh rất quan tâm đến các đối tượng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo. Đó là những gia đình có công với cách mạng, gia đình liệt sỹ, thương binh, bộ đội, thanh niên xung phong, các cụ già không nơi nương tựa, các cháu mồ côi… Người yêu cầu Đảng và Nhà nước phải đặc biệt quan tâm, đưa ra các chính sách riêng, thích hợp, phải tìm việc làm phù hợp cho họ, giúp đỡ họ để họ được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đó cũng chính là thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, lá lành đùm lá rách của dân tộc ta; thể hiện lòng nhân đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Người luôn nhắc nhở: “Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng phải luôn luôn nhớ: Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”.[6, tr.185]
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế là một bộ phận hợp thành của tư tưởng Hồ Chí Minh tạo thành một thể thống nhất của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức và con người. Khi đề cập đến quan hệ sản xuất Hồ Chí Minh luôn chú trọng hoàn thiện ở cả ba mặt là sở hữu, quản lý và phân phối; Phải làm cho quan hệ sản xuất mới dần dần phù hợp với lực lượng sản xuất phát triển, có như vậy mới giải quyết được mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hội. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ sản xuất chúng ta thấy được sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo những nguyên lý cơ bản của học thuyết Mác - Lênin vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của nước ta.
Tài liệu tham khảo:
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
Nguyễn Thị Kim Dinh
Other news
- Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên giảng dạy lý luận chính trị tại trường Cao đẳng An ninh nhân dân I trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay (Thứ Sáu, ngày 10/04/2026)
- Hội thảo khoa học “Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong công tác giáo dục, đào tạo, xây dựng lực lượng tại Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I” (Thứ Sáu, ngày 10/04/2026)
- Xây dựng và lan tỏa tinh thần xung kích, sáng tạo của đoàn viên thanh niên trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng gắn với nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và xây dựng lực lượng Công an nhân dân giai đoạn hiện nay (Thứ Sáu, ngày 10/04/2026)
- Phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ trong xây dựng văn hóa số tại Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I (Thứ Năm, ngày 09/04/2026)
- Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với xây dựng văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí trong Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I (Thứ Tư, ngày 08/04/2026)
- Giao lưu bóng đá chào mừng các ngày lễ lớn, góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua học tập, rèn luyện giữa Khoa Trinh sát ngoại tuyến và các lớp học viên (Thứ Hai, ngày 06/04/2026)
- Sơ kết phong trào thi đua “Vì An ninh Tổ quốc” Cụm thi đua số 130 khối các đơn vị phòng, trung tâm, năm học 2025-2026 (Thứ Bảy, ngày 04/04/2026)
- Ban Thanh niên Công an nhân dân tổ chức Hội nghị giao ban công tác Quý I và tổng kết Tháng Thanh niên năm 2026 (Thứ Bảy, ngày 04/04/2026)
- Xây dựng tuổi trẻ Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I “vừa hồng, vừa chuyên” theo tinh thần Kết luận 166 (Thứ Năm, ngày 02/04/2026)
- Tích cực thi đua, quyết tâm thực hiện thắng lợi Triết lý giáo dục của Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I (Thứ Năm, ngày 02/04/2026)
News
-
Kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả công tác quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam
Thứ Bảy, ngày 11/04/2026
Đề xuất ban hành quy chế mới về quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia
Thứ Bảy, ngày 11/04/2026
Phát huy truyền thống vẻ vang, Lực lượng Công an nhân dân phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Thứ Bảy, ngày 11/04/2026
Lực lượng Tham mưu Công an nhân dân dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
Thứ Bảy, ngày 11/04/2026